Thứ Năm, 18 tháng 3, 2010

Seoul - Gyeongbokgung mùa đông


Cảnh Phúc Cung (Gyeongbokgung)

Hơn năm tiếng quá cảnh nên chỉ đi thăm được cố đô Gyeongbokgung (Cảnh Phúc Cung) và lang thang tí xíu trên đường phố để tìm quà lưu niệm mà thôi. Chiếc van chở mọi người từ sân bay Incheon đến cung điện Cảnh Phúc (Gyeongbok) độ non một tiếng. Tuyết trắng xóa dọc hai bên đường, đọng cả trên mái nhà, trên các gờ đá, một chút trên các trụ điện, tượng đài, thân cây, bảng quảng cáo ngoài trời...Tuyết cũng ngập trắng cả quảng trường trước cung điện, trên những thân cây nghiên già cỗi, mái ngói và bờ tường (chẳng thấy rêu phong gì cả, chắc tại lạnh quá rêu nó mọc không nổi).

Cảnh Phúc cung là một kinh thành đẹp nhất của thành phố Seoul, được xây dựng vào cuối thế kỷ thứ XIV. Có hơn 330 công trình tọa lạc trên một khu đất hình thang theo trục Nam- Bắc, phía sau rộng hơn phía trước (hồi đó người ta cũng khoái "nở hậu" ha), nằm ngay trong lòng một dãy núi cong cong hình giống như chữ w úp ngược. Thế phong thủy này có lẽ đã giúp cho vương triều Joseon trị vì đất nước Triều Tiên trong suốt một khoảng thời gian dài đến 500 năm.


Cảnh Phúc Cung nằm giữa vòng cung của một dãy núi phía Bắc (ảnh từ Google Map)

Có bốn lối vào thành mà cửa lớn nhất ở phía nam là Quang Hóa Môn (Gwanghwamun) hiện đang sửa chữa. Có nhiều binh lính đứng canh và các quan binh đi tuần trong y phục cổ xưa làm ai cũng tưởng họ đang chuẩn bị cho một show diễn gì đó kiểu như ở Pattaya (Thailand), Sentosa (Singapore) hay kiểu hóa trang thành các chiến binh quanh đấu trường Colysée (Rome-Italy) cho du khách chụp hình (có trả tiền)... Chuẩn bị ít tiền lẻ định chụp hình chung, mới biết đó là một hoạt động vừa an ninh vừa văn hóa của người dân Hàn quốc. Đến đúng ngọ thì cả một toán binh lính rầm rộ đổi gác, có cả trống kèn, cờ xí ì xèo như thiệt. Họ giới thiệu luôn cho chúng ta phần nào sắc thái của sinh hoạt cung đình ngày trước mà họ đã cố gắng gìn giữ. Thật đáng quý nếu biết Cung đình Gyeongbokgung phải được phục chế đến gần 70% những gì đã hư hại sau đệ nhị thế chiến (cuộc chiến Nhật-Hàn), như Trần Đức Anh Sơn đã viết trong phần Hàn Chương, cuốn "Rong ruổi thực lục": “Lịch sử dẫu có lúc thăng trầm, nhưng văn hóa Triều Tiên vẫn sống mãi và cổ tích Gyeongbokgung đã và đang tái sinh một cách trọn vẹn cả phần xác lẫn phần hồn”.


Đi dọc theo trục Nam-Bắc thì kế tiếp là Hưng Lễ Môn (Heungnyemun), bước qua đó là cái sân rộng lát đá với cây cầu Yongje cũng bằng đá thấp thấp bắt qua con hào nhỏ như kiểu con hào bao quanh Đại Nội - Huế vậy. Cũng không có gì đặc biệt lắm, con hào đóng băng và chung quanh cầu phủ đầy tuyết nên nhìn mãi mới ra.



Hưng Lễ Môn (Heungnyemun)

Qua khỏi cổng kế, Cần Chính môn (Geunjeongmun) là một khoảnh sân rộng trước khi nhìn thấy Cần Chính điện (Geunjeongjeon). Đó là một tòa nhà đồ sộ, hai tầng mái, đặt trên một nền đá cao có nhiều bậc cấp dẫn lên qua hai hành lang lộ thiên bằng đá chạm trổ bao quanh. Bậc cấp dẫn lên điện hay qua các cửa (tam quan) dù rộng nhưng luôn luôn có chừa một lối đi ngay cửa giữa, có lẽ là dành riêng cho nhà Vua đi, hai bên là hai tượng hình con Lân, giữa là một vòng tròn chạm khắc đôi chim như là Phượng Hoàng vậy. Các quan lại thì chỉ đi lên xuống phía bậc thang bên ngoài hai tượng đó. Ngày nay các bậc thang riêng và tượng đá này được chắn lại bằng một khung sắt để ngăn du khách bước qua nhưng vẫn chiêm ngưỡng được.


Bậc cấp bằng đá chạm trổ

Điện Cần Chính (Geunjeongjeon) có năm gian, được thiết kế sắc sảo với nhiều chi tiết trên các rui mè của cả hai tầng mái cong cong, các cột gỗ sơn đỏ. Các tấm cửa bao quanh thì khá đơn giản nhưng lại mở theo kiểu kéo lên trên rồi móc lại chứ không mở ra hai bên như cửa thông thường. Phía bên trong điện trang nghiêm nhưng đơn sơ với ngai Vua ngự ở sau cùng của gian chính giữa. Ngai bằng gỗ sơn đỏ, có năm bậc cấp bước lên. Phía sau lưng ngai là bức phù điêu vẽ hình năm ngọn núi lớn cùng một mặt trăng và một mặt trời. Phía trước là một án thư để vua phê duyệt. Chung quanh phía trước là độ chừng mươi cái gối cho các Quan ngự, đặt sau những án thư nho nhỏ. Sau lưng các quan là những giá kiểu như giá cắm binh khí, nhưng chỉ cắm những cây quạt, đặt cạnh những lồng đèn hình tứ giác cao độ bảy mươi phân. Trên các cột lớn có treo mấy cái lồng đèn lục giác như giống như đèn kéo quân mà ta thường thấy. Ngoài cùng là hai chiếc đỉnh bằng sứ to, cao hơn cả đầu người. Vòm trần nhà khá cao, các phần gỗ được chạm trổ công phu với ba màu sơn chính: đỏ, xanh lá cây non và vàng. (Đẹp nhưng hơi giống màu đồ chơi con nít bây giờ).

Điện Tư Chính (Sajeongjeon) nằm ngay sau Điện Cần Chính, cách một cái cổng nhỏ, là hai điện lớn dùng vào việc triều chính. Điện này hơi nhỏ, thấp hơn và chỉ có một lớp mái. Thiết kế bên trong cũng tương tự điện Cần Chính. Bên phải Điện Tư Chính là Đông Cung Thái tử (Donggung). Bên trái Điện Tư Chính là điện Tu Chính (Sujeongjeon) dùng để xử lý các vụ việc trong Hoàng Gia.

Điện Cần Chính: Bậc thang và hành lang bằng đá. Bài trí trong chánh điện. Trang trí trên mái ngói.

Kế tiếp là khu vực sinh hoạt của Hoàng Gia, chủ yếu gồm Điện Khang Ninh (Gangnyeongjeon) là nơi Vua ở, Điện Giao Thái (Gyotaejeon) là nơi ở của Hoàng Hậu.


Khang Ninh Điện (Gangnyeongjeon) và Giao Thái Điện (Gyotaejeon) của Đức Vua cùng Hoàng hậu

Bên trái khu này (nằm về phía tây của Hoàng Cung) là một hồ lớn trên đó có một lâu đài tên là Khánh Hội Lâu (Gyeounghoeru) dùng thiết đãi yến tiệc cho các đoàn sứ thần ngoại quốc. Người ta mô tả Khánh Hội Lâu “là một lâu đài diễm lệ, hè đến soi mình dưới làn nước hồ trong xanh như ngọc bích; đông về ẩn mình dưới lớp tuyết trắng tựa bông” (Mình tới mùa đông thôi mà cũng thấy nó đẹp, nhưng trông nó như “phơi” mình “trên” lớp tuyết trắng tựa bông thì đúng hơn).


Khánh Hội Lâu (Gyeounghoeru)

Sau lưng cung Hoàng hậu là vườn Nga Mi Sơn (Amisan), một khu vườn đẹp nhưng hơi kỳ bí. Khi đào hồ làm Khánh Hội Lâu, người ta đã lấy đất để đắp nên vườn Nga Mi này. Chính giữa vườn là hòn đá cầu tự cho Hoàng hậu. Đi ngang nhìn nhìn thôi chứ không dám đụng vô, sợ đụng nhằm giờ "thiên", về ông bà cho thêm đứa nữa thì... Phía sau hòn đá là một dãy dài gồm bốn trụ lớn hình lục giác, bên trên có lợp mái, mỗi mặt có cẩn bức phù điêu bằng đá chạm hình núi rừng, cây cỏ, chim muôn…Ngoài ý nghĩa về mặt tâm linh sao đó thì các cột này còn có chức năng là những ống thoát khói (chimney) cho hệ thống lò sưởi được thiết kế ngầm bên dưới các tòa nhà trong cung điện.


Vườn Nga Mi Sơn (Amisan)

Các ống khói và hòn đá cầu tự trong vườn Nga Mi

Thời tiết ở Seoul khá khác biệt, mùa đông có thể lạnh đến âm 10 độ, nhưng mùa hè lại nóng tới gần 40 độ nên tất cả lâu đài trong Hoàng cung đều thiết kế một phần bệ phía dưới nền nhà để làm lò sưởi. Cấu trúc mái ngói thì trên những rui mè bằng gỗ là một lớp chất kết dính rồi mới đến hai lớp ngói bằng đất nung lợp ngoài cùng. Nhờ thế nên người ta có thể giữ nhiệt độ trong các tòa nhà của Hoàng cung luôn ở khoảng 25 – 26 độ, hè cũng như đông. Phía ngoài trời, trên mái ngói không nhìn thấy các hình chạm khắc kiểu “Lưỡng Long tranh Châu” hay “Lưỡng Long triều Nguyệt” như bên mình, nhưng ở đầu hồi và cuối hai đầu mái thì có nhiều tượng nhỏ và cái đầu rồng. Chuỗi tượng nhỏ này bắt đầu bằng hình tượng của một vị vua (hay tướng lãnh) trông uy nghi, tiếp sau là 4 tượng biểu trưng cho quân lính và quan lại quỳ gối chầu, sau cuối là cái đầu rồng.


Mái ngói
Bên trái của vườn Nga Mi Sơn là Khâm Kính Cát (Heumgyeonggak). Lâu đài này dành cho các quan lại chuyên phụ trách về việc nghiên cứu thiên văn để phục vụ mùa màng cho nông dân. Tại đây có lưu giữ lại mô hình một đồng hồ mô phỏng quỹ đạo chuyển động các thiên thể để tính giờ cả ban ngày lẫn ban đêm, 24 tiết trong năm; hoặc cái đồng hồ nước như cái thau bằng đồng (hình bán cầu),mặt trong có vạch nhiều mức, lòng thau có một cái tượng nhỏ, nước dâng lên tới mức nào đó có thể làm bức tượng gõ vào cái chuông để báo giờ…

Bên phải vườn Nga Mi là điện của Hoàng Thái Hậu Jo, mẹ vua Heonjeong (vị vua thứ 24/27 của triều đại Joseon), người nắm quyền lực trong 15 năm trị vì của vua này. Heonjeong mất không có con kế vị, bà cùng gia tộc Andong Kim (gia tộc quyền lực nhất trong triều đình lúc đó) đưa một người cháu mù chữ lên ngôi vua thứ 25, Cheoljong, và tiếp tục nắm quyền thêm 13 năm nữa cho đến lúc Cheoljong mất mà cũng không có con kế vị. Bà lại sắp đặt cho người cháu khác vốn không có xuất thân từ dòng dõi Hoàng tộc, lên ngôi lúc 12 tuồi, vương hiệu là Gojong (thứ 26). Cung điện của vị vua được xem như là cuối cùng của triều đại Joseon này nằm gần sau cuối của Hoàng Cung Cảnh Phúc (vị vua thứ 27 do người Nhật chọn nên không có ảnh hưởng gì đến Hoàng Cung này nữa – vì lúc đó Nhật Bản đã xâm chiếm Triều Tiên, đem hết Hoàng Gia về bên Nhật "nuôi nấng" rồi).

Giữa Điện của Hoàng Thái Hậu Jo và Điện của vua Gojong là một công trình tuyệt đẹp: Hương Viễn Đình (Hyangwonjeong), một lâu đài nhỏ hình lục giác nằm giũa ao sen được gọi tên là Hương Viễn Trì (Hyangwonji) với chiếc cầu gỗ xinh xinh bắt qua.


Trên đường đi ra Hương Viễn Đình

Điện cuối cùng giáp với cổng phía Bắc của Hoàng Cung là Càn Thanh Cung (Geoncheonggung). Đây là điện mà vua Gojong xây tạm trong thời gian sửa chữa kinh thành, sau này được ông sử dụng như là một thư viện và nơi tiếp các phái viên nước ngoài. Càn Thanh Cung có phong cách gần với kiến trúc Trung Hoa thời Mãn Thanh.

Phía trái của Càn Thanh Cung là khu lăng mộ của Tiên đế. Phía phải là Viện bảo tàng Dân tộc quốc gia, chỉ mới được xây dựng từ năm 1945. Khuông viên quanh bảo tàng có nhiều tượng đá, nhưng ngộ nghĩnh nhất có lẽ là các tượng 12 con giáp, tượng "Grand Papa".


Tượng 12 con giáp ở trước Viện Bảo Tàng Dân tộc cạnh Hoàng Cung.

Đoái bụng rồi, về thôi, bữa khác đi thăm tiếp.

Thứ Bảy, 13 tháng 3, 2010

Seoul - Hán Thành



Buổi sáng tại Seoul lạnh, tuyết rơi nhẹ ngoài cửa kính của phi trường Incheon. Tuyết cũ của những ngày trước còn đọng trên các bờ cỏ và những nơi không phải là lối đi. Người ta bọc rơm quanh những bụi cây, thân những cây non để chúng khỏi chết vì lạnh.

Incheon airport là một trong những phi trường lớn và đẹp nhất của châu Á. Được xây dựng trên một hòn đảo giữa biển và đi vào hoạt động từ tháng 3 năm 2001, chỉ 10 ngày trước khi Bi chào đời. Đã từng được xếp vào top các phi trường phục vụ tốt nhất thế giới (Năm ngoái được xếp đầu luôn), nó còn nổi tiếng ở chổ nó đã từng chuyên chở được một khối lượng hàng lên tới 77 tấn trên 1 chuyến bay và là sân bay duy nhất chở được các động vật sống như cá sấu, voi hay trâu bò...

Bên ngoài: Một đầu của phi trường Incheon. Mặc "áo" chống rét cho cây. Máy bay của Korean air.


Bên trong: Hướng dẫn phục trang. Hoa và cây lá treo ở phòng chờ. Vườn chơi cho em bé

Không chỉ kết cấu hình thức to lớn, hệ thống cung cấp thông tin đầy đủ, mà sự chăm sóc, phục vụ khách hàng của đội ngũ nhân viên lễ độ, thân thiện (nói cách khác là "có học") làm cho mọi người cảm thấy dễ chịu. Phòng chờ sạch sẽ, quầy bán hàng sang trọng, có cả phòng chơi cho em bé và những bà mẹ phải chăm sóc con ở tuổi nhũ nhi (nursing room). Trong khu vực dành riêng cho những người quá cảnh, ngoài quán café, quầy bar, restaurant và hotel, người ta thấy còn có phòng xem phim, nghe nhạc, máy tính có nối mạng internet free, phòng tắm, quầy chăm sóc da, làm đẹp, những dãy ghế nằm nghĩ kín đáo và cả một khu rộng trưng bày, giới thiệu về lịch sử - văn hóa của người Triều Tiên.


Và nhìn từ trên cao. (Hình này của Google)

Tháng giêng có lẽ là tháng lạnh trong năm. Ít tuyết rơi lất phất cho đến khi nắng lên. Trời nắng nhẹ, không có gió nên cái lạnh cũng dễ chịu. Con suối Thanh Khê (Cheonggye) tuyết phủ hai bên bờ và ít người qua lại trên lối đi ven giòng suối. Chảy qua trung tâm thành phố, cũng be bé như sông Tô lịch ở Hà Nội vậy, nhưng xinh đẹp và nổi tiếng vì kế hoạch vĩ đại để phục hồi nó. Từ hồi triều đại Joseon đã có con suối này rồi, nhưng theo thời gian nó bị san lấp dần đi để làm đường. Năm 2003 Lee Myung Bak, thị trưởng thành phố Seoul (sau này là Tổng thống Hàn quốc) đã nổ lực tái tạo con suối, cùng với việc trồng hàng triệu cây quanh thành phố, xây dựng khu rừng Seoul, để làm xanh và mát thành phố này vào mùa hè nóng bức. Mặc dù đã có tới 24 cây cầu bắt qua giòng suối chỉ dài có hơn 3 cây số này nhưng vẫn thấy nhiều hàng đá vuông vức xếp ngang lòng suối để khách bộ hành có thể băng qua lại dễ dàng, trông ngộ nghĩnh như các lối đi bằng đá trong khu vườn Nhật bản vậy.


Suối Thanh Khê (Cheonggye) chảy qua trung tâm Hán Thành.

Một giờ trưa mới ăn cơm vì chuyến đi thăm Hoàng cung kéo dài. Món Bimbimbab được nhiều người ưa thích. Cơm dẻo dẻo tựa cơm lam Việt nam nấu trong ống nứa. Các món rau, trứng và nấm được chế biến với rong biển và …ớt. Không thể thiếu món Kim chi.


Bimbimbab

Đường phố đi bộ tại Seoul lát đá, nhỏ mà sạch. Bảng hiệu được viết bằng cả tiếng Anh, nhưng phần tiếng Hàn thì đẹp hơn, bởi nó được khắc hoặc cắt nổi trên gỗ trông rất lạ. Người qua lại đa số là người trẻ tuổi, vóc dáng cao, thanh mảnh và y phục model, may rất khéo, màu sắc nhã nhặn.


Các cửa tiệm


Đường phố và bảng hiệu


Hàng lưu niệm trên hè phố và trong cửa hàng

Hanbok được coi là quốc phục của phụ nữ của Hàn quốc nhưng chỉ thường sử dụng trong các dịp lễ, màu thường sặc sỡ hơn. May mắn có được xem một người mặc Hàn phục.



Nói chung, Hàn quốc, Nhật Bản hay Việt Nam đều là những đất nước có ít nhiều ảnh hưởng về ngôn ngữ, văn hóa và thẩm mỹ với Trung Hoa, rồi mỗi nước đều có những thay đổi và phát triển theo phong cách riêng của mình rất ấn tượng. Tuy nhiên ở Hàn quốc, điều ấn tượng hơn cả là sự đơn giản trong cái đẹp.

Thứ Hai, 8 tháng 3, 2010

Mồng 1 và mồng 2 tết

Sẽ kể cho Bi Ky về mấy ngày Tết ở quê.

Tiếp Bác Khê và Bác Hồng qua thắp hương cho Bà Nội sáng mồng một xong Ba Mẹ vội vàng ra phi trường. Ngày đầu năm mà khách đi đông, gần hết chổ. Máy bay đáp xuống phi trường Phú Bài lúc xế trưa. Bà Ngoại và Dì Hoa cùng Bác Tình ra đón. Trời nắng nhẹ, khô và đẹp. Chiều, Bác Tình, Dì Hà dẫn lên thăm mộ Cậu Tân, bà Mai. Cả vùng đồi mà ngày trước Ôn Ngoại lúc chưa bị bệnh, đã cấp củm dời từng bộ hài cốt về đây, giờ đã thành một nghĩa trang cao ráo và đẹp.

Sáng mồng 2 trời trở lạnh và không còn nắng nữa. Ba Mẹ đi về Truồi, ghé thăm Bà Ấm Phụ, là vợ của Ôn Ấm, anh ruột Ôn Nội con, ở dưới làng Sư Lỗ. Bà đã chín mươi rồi mà vẫn còn khỏe. Nhà Cô Tâm và Bà Ấm đều ở quanh quanh chợ Truồi cũ. Vẫn còn cái cổng chợ thiệt là cũ và cây bàng như ngày nào Ba còn nhỏ.

Ăn cơm trưa tại nhà Cô Tâm xong, Cô và Bác Quang cùng Ba mẹ đi thăm mộ Bà Nội. Đường lên mộ men theo sông Truồi lên đến gần hồ Truồi. Qua khỏi Ga truồi một đoạn là nhà Ôn cố Nội của con mà thuở nhỏ Ba sống ở đó lâu nhất. Bây giờ chỉ còn Ôn Hồng ở, ba của anh Lạc Thư và Long Ẩn. Ghé thăm ôn, dạo này ôn bớt đau cổ rồi. Hôm bữa Bà vào Sài gòn chơi, ghé thăm ba mẹ, Bà bảo Ôn đau cổ là tại ôn tập (chắc là thể dục) nhiều quá, ai biểu tập nhiều làm chi vậy? À, tại mấy cái "con khỉ" nào đó nói Ôn tập gì mà dạo này trông trẻ ra nên Ôn tích cực tập nhiều hơn... Chắc Bà bực mình Ôn nên nói thế chứ chuyện luyện võ là chuyện nghiêm túc của ôn lâu rồi.

Dọc đường nhiều hoa dại chen nhau mọc ven đường, màu tím của Sim, Cỏ may, màu vàng rực của Quỳnh anh, đỏ vàng của Ngũ sắc...đẹp đến độ Mẹ con phải bảo Ba dừng lại ngắt để lên cắm thêm trên mộ Nội. Lối vào nho nhỏ bên phải nay bị chắn lại, người ta mở một lối mới quanh co phía bên trái, đi qua mộ Ông Bà cố Ngoại thẳng xuống hồ (cái hồ nhỏ chứ không phải Hồ Truồi) nên bây giờ mộ bà Nội con trở nên khuất và kín đáo hơn. Mấy cây tràm hoa vàng đã cao lớn hơn không còn che tầm nhìn xuống mặt hồ nữa. Mộ Nội sạch sẽ vì ngày 27 tết O Doni đã ra thăm và quét dọn. Mẹ chuẩn bị đồ cúng rồi lì xì cho mấy em bé chăn bò quanh đó để chúng đừng phá mộ khi mình không có mặt. Cô Tâm, Bác Quang cùng với Ba đi thắp hương và nhổ cỏ cho mấy mộ quanh đó, có mộ Ôn Bà cố Ngoại, ôn Nẫm (anh của Bà Nội). Chiều, trên đường về Cô Tâm rủ Ba Mẹ luôn thể ghé lên thăm chùa Trúc Lâm - Bạch Mã trong lòng hồ Truồi.



Phía trên ngọn thác của sông Truồi, người ta xây đập để giữ nước lại thành một cái hồ. Trong lòng hồ có một đảo nhỏ chính là chỏm của một ngọn núi còn lại, đàng sau là nhiều mỏm núi liền nhau thành một bán đảo. Một tượng Phật lớn được dựng lên trên hòn đảo, phần chùa thì xây trên bán đảo phía sau. Con đường đi lên dọc theo phía hữu ngạn sông, quanh co qua những cánh rừng. Sau khi men theo bờ hồ một đoạn, đi qua con đập lớn vòng qua phía tả ngạn là bến đò để vào Chùa. Tới bến đò trời chuyển mưa nặng hạt, Cô Tâm mua thêm áo mưa cho mọi người rồi qua đò. Trời mưa mà cũng nhiều người đi viếng chùa, nhất là các học sinh. Mạn đò thấp nên Mẹ thích thú vọc tay xuống nước hồ trong vắt và mát lạnh. Từ bến, đò chạy cũng khoảng cây số nữa mới tới nơi. Nhìn từ xa Chùa nổi lên với các mái ngói đỏ, viền cong cong bởi các con rồng đắp quét vôi vàng. Hồ rộng, rừng núi xanh biếc chung quanh mờ trong màn mưa...làm Ba tiếc là sao lại không đem theo máy chụp ảnh?

Đi lên một đoạn dốc nhỏ trước khi bước lên 174 bậc (không tính cái bậc nhỏ xíu ngay trước cổng tam quan). Bậc 48, 99 và một trăm năm mươi mấy đó (quên rồi) thì lớn hơn các bậc khác (chắc để cho người ta đứng lại mà thở ). Ba nhắc cho mẹ nhớ để mà kể cho Bi Ky nghe, (rứa mà lúc xuống Mẹ lại nói có 164 bậc hà, cũng không nhiều lắm hỉ. May sao Ba còn nhớ rõ nên không phải quay lên đếm lại).

Trúc Lâm - Bạch mã được Hòa Thượng Thanh Từ khởi công vào năm 2006, chùa xây theo trường phái của các Trúc Lâm thiền viện như ở Yên tử, Tam Đảo, Long Thành, Đà lạt (Các con có đến đây rồi - đi bằng cáp treo. Nơi đây trồng rất nhiều hoa) ... Sau Tam quan là hai tòa nhà nằm theo trục dọc: Đại điện và Tổ đường. Bên phải Tổ đường là Tăng đường, còn phía bên trái là Trai đường, lớn hơn.

Đại điện thiệt là lớn, gồm ba gian. Giữa là tượng Đức Thích Ca Mâu Ni, phía sau là bức phù điêu cây Bồ đề và những dãy núi thấp như ở xứ quê hương của Ngài. Phía trái (của Ngài chứ không phải của Ba) là tượng Đức Văn Thù Bồ Tát đặt trước bức phù điêu cành tùng trên vài ngọn núi cao nhọn, đặt trưng của đất Trung hoa. Phía phải là tượng Đức Phổ Hiền Bồ Tát. Các cây cột của Đại điện cao vút và phía trên là phần gỗ được chạm trổ tuyệt đẹp như những tấm màn. Treo trên đó là các bức liễn và hoành phi bằng gỗ thiếp vàng.

Rời Chánh điện đi thêm hai mươi mấy bậc thang nữa (lần này quên, không đếm) là Điện thờ các vị Tổ sư cũng lớn và hoành tráng không kém. Có một Sư Thầy đang đứng đánh chuông cho chư vị lễ Phật, nhưng có lẽ nhiều người hỏi quá nên Thầy cũng dành chút thời gian giảng nghĩa. Mẹ ngoắc Ba vào để nghe. Thầy nói đạo Phật du nhập vào nước ta từ hồi người Tàu qua đây đô hộ lận, nhưng nhờ lòng từ bi bác ái nên nhân dân ta đã đánh đuổi được giặc ngoại xâm dành lại độc lập tự do cho dân tộc(?)...Không biết cái mặt của Ba đứng đó ngó có giống "công an chìm" không nhỉ?

Phía trái của Tổ đường là Trai đường, một dãy nhà ba tầng với tượng Đức Quán thế Âm Bồ Tát trên cao. Ngoài cùng của tầng 2 là bếp, phía trên tầng 3 là điện thờ. Bên bức tường phía ngoài tầng 3, chùa cẩn thận gắn thêm một bàn thờ nhỏ xíu trên tường (như kiểu bàn Thiên trước nhà mình vậy) trên đó không có tượng gì cả nhưng có bày hoa quả và bánh tét...không biết để cúng ai. Định hỏi nhưng không tìm thấy ai nên thôi vậy. Từ trên cao nhìn xuống rừng núi hùng vĩ và hồ nước xanh bao bọc chung quanh nên dù chùa không phải trồng cây nhiều nữa mà vẫn thấy dịu nhẹ. Không phải bắt chước Đà lạt, nhưng Ba nghĩ là nên đem độ một nửa Lan của vườn Bạch Mã lên đây thì chắc còn đẹp hơn nữa.

Cô Tâm nói, hôm khánh thành Chùa (20 tháng tư 2008), đông người đến viếng lắm, Cô đi mà phải chen chúc và đôi lúc phải để từ từ trôi theo giòng người chứ không đi nổi. Chiều rồi nên mọi người đều muốn về kẻo sợ hết đò. Đoạn đường đi bằng thuyền trong lòng hồ có lẽ là đẹp nhất với Ba. Khi nào về quê, lên thăm mộ của Nội ba sẽ nhắc Bi Ky đi vòng quanh hồ Truồi bằng một chuyến đò cho biết.



Trước khi về ba có ghé lại thăm trường Tiểu học An lương Đông, hồi nhỏ Ba học (nghe văng vẳng đâu đây giọng ca Thanh Tuyền "Hôm nay tôi trở về thăm trường cũ..." ). Từ Cầu Truồi đi ngược trên đường quốc lộ hướng về phía Cầu Hai độ 100 thước thì bên phải là Ga truồi, bên trái là một dãy nhà nằm thấp xuống dưới mép đường, trong đó có nhà thầy Khôi (hiệu trưởng thời Ba còn học), Mợ Kiều (vợ cậu Nẩm, anh bà Nội), nhà ông thợ "cúp" mà hồi nhỏ bà cố Nội con hay cho người đưa Ba xuống cắt tóc ở đó. Ba còn nhớ ổng hơi ốm, người cao cao, khi nào cũng phẩy phẩy tấm vải trắng trước khi quàng vào cổ khách hàng. Cái khăn trùm luôn người ngồi và cả cái ghế có hai tay tựa. Một cái gương lớn đặt ngay trước mặt khách, soi rõ luôn cả người đi chợ qua lại bên ngoài đường. Dưới cái gương là cái bàn nhỏ lật nắp lên xuống được, trên đó là dao, kéo, tông đơ và mấy cái hộp đựng phấn thơm cùng cái nắp gỗ gắn chùm lông để thoa phấn mỗi khi cạo. Ông có hai cây kéo mà một cây có cái lược luôn trên đó, 1 cái tông đơ màu đen bóp bằng tay và độ 3 cây dao cạo, loại dài cỡ gang tay, lưỡi gấp được vào trong cái cán bằng gỗ hoặc xà cừ láng bóng. Trong khi chờ đợi là ông cứ lấy con dao ra liếc liếc vào sợi dây bằng da, cột một đầu trong bức tường, một đầu để nắm kéo căng ra khi mài. Thời đó chỉ có hai kiểu cúp, cúp ca rê thấp và cúp ca rê cao, không kể cạo trọc. Thật ra thì cúp tóc cũng thoải mái, mùi phấn thơm thơm, chỉ phiền cái là ông hay lấy tay bẻ cái đầu của Ba theo ý ổng cho dễ cắt và sau khi cắt, tóc vướng lại trong cổ xót xót tí thôi...

Qua khỏi dãy nhà đó độ hơn trăm thước nữa là đường rẽ vào trường. Con đường nhỏ và không quanh co, không có cái bàn "ra tông" đầu đường giống như xưa nên hơi khó tìm. Đám ruộng sau lưng trường và mấy cái mả quanh đó được thay bằng nhà cửa san sát. Cánh cổng nhỏ hơn ngày xưa và đóng kín (vì nghĩ tết). Không còn gì giống như ngày xưa cả, trừ cây vông đồng già cao lớn giữa sân. Đúng là nó, nó nằm ngay trước cửa lớp năm A (lớp nhỏ nhất trường) của Ba hồi đó, thầy Ban dạy. Đi ngược về bên trái là lớp tư, cô Thảo dạy, phòng kế là lớp ba, thầy Thiện dạy. Hai phòng tiếp cho lớp nhì và lớp nhất thì Ba chưa vào (vì cuối năm lớp ba là Ba đã chuyển về Huế rồi). Tiếp đó là dãy ba phòng vuông góc để dành sinh hoạt học đường, nơi đó có lần người ta đến chiếu cho các học sinh coi phim về cuộc du hành của phi thuyền Apollo 11 đổ bộ Nguyệt cầu. Phòng ngoài cùng là phòng của Thầy Khôi, hiệu trưởng...Không còn gì quen thuộc nữa cả, chỉ còn duy nhất cây vông già giúp Ba nhớ lại những quang cảnh ngày xưa. Hồi học lớp hai, cô Thảo là bạn của cả ôn Nội lẫn Bà Nội nên thương Ba lắm, Ba còn nhớ cô hay khen với bà Nội "Trời, chị biết không, cái thằng thông minh thiệt, nó hỏi em là ai đan áo len cho con sâu róm mà đẹp rứa cô?". Ba không nhớ là mình có hỏi thế không, nhưng nếu có thì cũng ngồ ngộ thôi chứ nói là thông minh thiệt thì cũng hơi quá đáng .

Đường về lại Huế buổi chiều lạnh, nhưng bớt mưa.

Ba không chụp hình được nên các con vào đây coi đỡ nhé:
http://vnphoto.net/forums/showthread.php?t=20913

Thứ Sáu, 5 tháng 3, 2010

30 Tết

Thuở trước thì ngày này được dùng để nấu bánh chưng bánh tét, lau dọn nhà cửa và cúng đón ông bà về ăn tết với mình. Các lu, khạp, vại trong nhà phải múc cho đầy nước, tránh ngày mồng một tết phải khua thùng đụng giếng.

Trưa Mồng Một Ba Mẹ ra Huế rồi nên không làm gì nhiều, cũng cúng rước ông bà nhưng "bị chú" là năm nay ông bà về ăn tết hơi bị ít đừng buồn.

Chiều ba mươi lên nhà Mợ Khuê để thắp hương cho Cậu Út và chơi với Bé Na cu Rin tí. Lúc về rủ Cậu Trí Mợ Khánh ra xem đường hoa NH, nhưng vì Cậu Trí "bận" đi khám bệnh (chưa thấy ai siêng như Cậu) nên Ba Mẹ đi một mình.

Ba chở Mẹ theo con đường mà năm ngoái Ba và anh Bi cũng đi ngày ba mươi chụp hình gởi cho Ky. Đường Sài Gòn vắng vẻ hơn nhưng trên vỉa hè vẫn còn bày bán hoa, các loại trái cây để cúng và chưng như dừa, dưa hấu. Màu đỏ và màu vàng của các lồng đèn, chuỗi dây treo lấy may mắn, bong bóng, hoa giấy, cả thú nhồi bông nữa...rực rỡ ven đường.


Chiều ba mươi Tết hàng quán vẫn còn bày bán bên đường nhiều.

Quán cafe đông người (sao họ rảnh thế nhỉ - tưởng chỉ mình mình thôi chứ). Người ta vẫn ăn, uống và vẫn nhậu.


Bò nướng lốt trên lề đường Tôn Đức Thắng

Nói chuyện cúng tết mới nhớ lúc Ba Mẹ mới ra trường, vào Sài gòn, Mụ Phước (chị của mẹ của bà Ngoại của con - không thể tìm ra từ ngắn gọn hơn) bày cho Mẹ cách cúng mâm Ngũ Quả ngày Tết. Mụ bảo mỗi món không cần nhiều nhưng phải đủ các loại trái sau: Mãng Cầu, Dừa, Sung, Thơm, Đu Đủ, Xoài (ý là "cầu vừa sung sướng, thơm tho, đủ xài"), trái to, màu sắc càng đẹp càng tốt. Mấy năm sau về Vũng Tàu thấy nhà Bác Bi Em chỉ cúng có ba trái hà (Mảng cầu, Dưa hấu, Xoài), rứa là từ đó về sau dù vẫn nhớ lời Mụ dặn nhưng Ba Mẹ thấy cúng "cầu dư xài" có vẻ có lý hơn...

Qua hồ Con Rùa thấy đẹp nên ghé vào, người ta làm các quả cầu hoa và tường hoa khá lạ mắt. Tiếc là đường hoa NH quá đông nên không thể nào vào chụp hình cho đẹp được. Ba Mẹ chỉ có thể chen chúc được tí để coi ở khúc đầu và đuôi. Năm ngoái Ba và Bi đi sáng sớm nên dễ chịu hơn khi tà tà suốt từ đầu này đến đầu kia, tha hồ ngắm. Đến công viên Tao đàn thì chiều xuống mất rồi, tiếc thật. Năm nào ở Tao đàn cũng chưng nhiều hoa lan đẹp tuyệt.


Hồ con rùa với những quả cầu hoa

Nhà VH Thanh Niên và Diamon Plaza

Đầu và cuối đường hoa Nguyễn Huệ. (Khúc giữa đông quá, Ba không chen vô được).

Thảo cầm viên không còn đẹp như xưa, cửa đóng nên chỉ đi qua, không dừng lại. Bên trong vắng lặng, không có nhiều trò chuẩn bị đón xuân như trước đây. Trông nó loay hoay để tồn tại mà thấy tội nghiệp. Có lẽ rồi người ta cũng sẽ dẹp nó như công viên Văn Lang. Sát cạnh TCV là một building mới xây của PetroVN. Trên đường về thấy nhớ Bi Ky...


Cổng trước của Thảo cầm viên và tòa nhà PetroVN tower cạnh đó.

Tối ba mươi xóm mình vắng lặng, nhưng không tối thui như trong sách vở ngày xưa kể, bởi vì cứ cách chừng mươi thước là có một ngọn đèn đường rồi. Thay nước hồ cho mấy con cá cùng ăn Tết, tưới cây xong, vừa mở ti vi, vừa mở máy tính để chúc tết mọi người, vừa trả lời tin nhắn từ điện thoại đi động. Nhắn 20 tin mới đi được một tin (mà vẫn mơ hồ rằng mình bị tính tiền cả 20 cuộc). Đúng 12 giờ, người ta bắn pháo hoa. Ba không thích pháo hoa, để tiền đó xây nhà cho người nghèo hay hơn nên Ba tự nhủ sẽ không bao giờ đi đón giao thừa bằng cách xem bắn pháo hoa cả. Đón Giao thừa xong Ba Mẹ gọi điện ra Huế chúc Tết Ông Bà Ngoại và Ôn Kiện rồi như thường lệ là đón cả nhà cậu Trí đến xông đất mừng năm mới.


Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn chiều ba mươi


Công viên Văn Lang trong một ngày Tết cách đây hai năm.

Thứ Sáu, 12 tháng 2, 2010

29 Tết

Ngày cuối năm.

Những ngày cuối năm bao giờ cũng tất bật và rộn ràng cả. Nào là mua sắm, đi cho quà tết, lau chùi nhà cửa, sửa soạn bàn thờ...Năm nay không có Bi Ky, Ba Mẹ lại chuẩn bị ra Huế nên thấy thong thả hơn.

Hôm qua Ba ngủ gần cả buổi chiều để sáng nay dậy sớm chở Mẹ xuống chùa ở Long Thành và Giang Điền thăm Thầy và Sư Cô. Đường đi năm nay được làm mới và rộng ra nên đi cũng dễ hơn năm ngoái, lúc cùng đi với anh Lạc Thư và Bi.

Ba xuống Chùa Phật Ân trước, Ôn Trụ Trì làm cái cổng và lối đi vào Chùa đẹp, nhưng Ba không đem máy ảnh theo nên không chụp cái hình nào cho Bi Ky xem cả. Vào cổng Chùa thay vì quẹo bên phải liền thì bây giờ có thể đi thẳng vào sâu hơn một đoạn nữa (phần vườn cũ) rồi mới rẽ tay phải để đi vào chánh điện. Nhiều phòng mới xây và sửa chữa lại cho rộng hơn. Một cái chuông mới, đặt gần cổng, đang được trang trọng chờ làm nghi thức khai chuông. Chuông khá đẹp, lớn gấp đôi cái chuông cũ. Sau lớp giấy đỏ bọc bên ngoài, người ta có thể đọc được những giòng chữ tri ân với các họa tiết khắc nổi quanh chuông. Thầy nói nó nặng đúng một tấn, do một gia đình gồm một ông bố, một bà mẹ và một đứa con trai cúng dường cho Chùa (tự vì có khắc tên của họ trên cái chuông). Hơi giống trong phim Tàu, chứ phim cổ trang Hàn quốc không có chiện này (không tin thì cứ hỏi Mẹ). Nó được đúc tại Huế rồi mới chở vào Chùa. Chắc ngoài đó các nghệ nhân tài hoa hơn. Hồi ông Nội các con mất, Ba tình cờ được dự một lễ đúc một cái chuông ở dưới Long Khánh: Thợ cũng được mời từ Huế vào. Cái khuôn được làm và đặt sâu dưới lòng đất, chỉ chừa mấy cái ống phểu để đổ đồng vào. Bên cạnh là một cái lò lớn đỏ rực lửa nung chảy đồng trong một cái vạt. Lễ cúng diễn ra trang trọng với sự có mặt của nhiều Hòa thượng cao niên đến từ nhiều Chùa (Sài Gòn, Đồng Nai, Đà Lạt...). Khi chuẩn bị rót đồng vào khuôn thì nhiều Phật tử dự khán quanh đó đứng lên ném các vòng, nhẫn, đồ trang sức bằng vàng của mình vào trong cái vạt. Giòng đồng đỏ rực như lửa từ từ được rót cái khuôn. Sau khi nguội, nó sẽ được đập ra và thợ sẽ trau chuốt lại. Quan trọng nhất trong nghệ thuật đúc chuông là kỹ thuật cũng như chất liệu làm cái khuôn và tỷ lệ thiết pha vào trong đồng để tạo ra một cái chuông có tiếng ngân xa...

Bàn thờ có hình Ôn Nội được dời lên độ hai mươi mét so với vị trí cũ. Các Thầy, Chú và Điệu lăn xăn quét dọn, bày các chậu hoa cùng cây mai lớn trước đại sảnh để buột các phong bao lì xì kèm những lá xăm cho mọi người hái lộc đầu năm. Năm ngoái Ky nhờ anh Bi bốc xăm, hình như có nói đại ý là con đi xa, học tốt, cần phải giao lưu kết bạn thêm với mọi người. Năm nay không ai về Chùa đầu năm nữa nên không ai bốc giùm cho Bi Ky cả.

Ôn Trụ Trì cảm ho. Ba Mẹ đi mua thuốc cho Ôn và thắp hương cho Ôn Nội xong rồi về Chùa Pháp Lạc thăm Sư Cô theo đường tắt ở "ngã ba Thái Lan" mà năm rồi Bi có đi đó, có điều lần này đi ngược lại. Ôn gởi tặng mấy ấn bản kinh sách quý như Tâm Ảnh lục và Ánh Sáng Hoàng Kim của Hòa Thượng Thích Trí Quang, không có Bi ở nhà cho Bi đọc, uổng ghê. Thôi đành để trong tủ sách để "hù" thiên hạ vậy.

Chùa của Sư Cô năm nay cũng xây mới nhiều, khang trang hơn, nhưng thấy Sư Cô lúc nào cũng vất vả. Sân Chùa có nhiều tượng Phật mới và Ba thích nhất là hai cây mai trắng (Nguyệt Mai), nở chi chít đầy những hoa thiệt là đẹp. Ăn trưa với Cô xong Ba Mẹ về lại Sài Gòn. Cô gởi bánh chưng về cúng cho ông bà Nội. Bánh chưng Cô nấu ngon và có màu xanh rất tươi.

Ai cũng hỏi thăm Bi Ky và mong Bi Ky học giỏi, chăm ngoan.

Lại gần hết một năm rồi. Mau thiệt!