Thứ Hai, 8 tháng 3, 2010

Mồng 1 và mồng 2 tết

Sẽ kể cho Bi Ky về mấy ngày Tết ở quê.

Tiếp Bác Khê và Bác Hồng qua thắp hương cho Bà Nội sáng mồng một xong Ba Mẹ vội vàng ra phi trường. Ngày đầu năm mà khách đi đông, gần hết chổ. Máy bay đáp xuống phi trường Phú Bài lúc xế trưa. Bà Ngoại và Dì Hoa cùng Bác Tình ra đón. Trời nắng nhẹ, khô và đẹp. Chiều, Bác Tình, Dì Hà dẫn lên thăm mộ Cậu Tân, bà Mai. Cả vùng đồi mà ngày trước Ôn Ngoại lúc chưa bị bệnh, đã cấp củm dời từng bộ hài cốt về đây, giờ đã thành một nghĩa trang cao ráo và đẹp.

Sáng mồng 2 trời trở lạnh và không còn nắng nữa. Ba Mẹ đi về Truồi, ghé thăm Bà Ấm Phụ, là vợ của Ôn Ấm, anh ruột Ôn Nội con, ở dưới làng Sư Lỗ. Bà đã chín mươi rồi mà vẫn còn khỏe. Nhà Cô Tâm và Bà Ấm đều ở quanh quanh chợ Truồi cũ. Vẫn còn cái cổng chợ thiệt là cũ và cây bàng như ngày nào Ba còn nhỏ.

Ăn cơm trưa tại nhà Cô Tâm xong, Cô và Bác Quang cùng Ba mẹ đi thăm mộ Bà Nội. Đường lên mộ men theo sông Truồi lên đến gần hồ Truồi. Qua khỏi Ga truồi một đoạn là nhà Ôn cố Nội của con mà thuở nhỏ Ba sống ở đó lâu nhất. Bây giờ chỉ còn Ôn Hồng ở, ba của anh Lạc Thư và Long Ẩn. Ghé thăm ôn, dạo này ôn bớt đau cổ rồi. Hôm bữa Bà vào Sài gòn chơi, ghé thăm ba mẹ, Bà bảo Ôn đau cổ là tại ôn tập (chắc là thể dục) nhiều quá, ai biểu tập nhiều làm chi vậy? À, tại mấy cái "con khỉ" nào đó nói Ôn tập gì mà dạo này trông trẻ ra nên Ôn tích cực tập nhiều hơn... Chắc Bà bực mình Ôn nên nói thế chứ chuyện luyện võ là chuyện nghiêm túc của ôn lâu rồi.

Dọc đường nhiều hoa dại chen nhau mọc ven đường, màu tím của Sim, Cỏ may, màu vàng rực của Quỳnh anh, đỏ vàng của Ngũ sắc...đẹp đến độ Mẹ con phải bảo Ba dừng lại ngắt để lên cắm thêm trên mộ Nội. Lối vào nho nhỏ bên phải nay bị chắn lại, người ta mở một lối mới quanh co phía bên trái, đi qua mộ Ông Bà cố Ngoại thẳng xuống hồ (cái hồ nhỏ chứ không phải Hồ Truồi) nên bây giờ mộ bà Nội con trở nên khuất và kín đáo hơn. Mấy cây tràm hoa vàng đã cao lớn hơn không còn che tầm nhìn xuống mặt hồ nữa. Mộ Nội sạch sẽ vì ngày 27 tết O Doni đã ra thăm và quét dọn. Mẹ chuẩn bị đồ cúng rồi lì xì cho mấy em bé chăn bò quanh đó để chúng đừng phá mộ khi mình không có mặt. Cô Tâm, Bác Quang cùng với Ba đi thắp hương và nhổ cỏ cho mấy mộ quanh đó, có mộ Ôn Bà cố Ngoại, ôn Nẫm (anh của Bà Nội). Chiều, trên đường về Cô Tâm rủ Ba Mẹ luôn thể ghé lên thăm chùa Trúc Lâm - Bạch Mã trong lòng hồ Truồi.



Phía trên ngọn thác của sông Truồi, người ta xây đập để giữ nước lại thành một cái hồ. Trong lòng hồ có một đảo nhỏ chính là chỏm của một ngọn núi còn lại, đàng sau là nhiều mỏm núi liền nhau thành một bán đảo. Một tượng Phật lớn được dựng lên trên hòn đảo, phần chùa thì xây trên bán đảo phía sau. Con đường đi lên dọc theo phía hữu ngạn sông, quanh co qua những cánh rừng. Sau khi men theo bờ hồ một đoạn, đi qua con đập lớn vòng qua phía tả ngạn là bến đò để vào Chùa. Tới bến đò trời chuyển mưa nặng hạt, Cô Tâm mua thêm áo mưa cho mọi người rồi qua đò. Trời mưa mà cũng nhiều người đi viếng chùa, nhất là các học sinh. Mạn đò thấp nên Mẹ thích thú vọc tay xuống nước hồ trong vắt và mát lạnh. Từ bến, đò chạy cũng khoảng cây số nữa mới tới nơi. Nhìn từ xa Chùa nổi lên với các mái ngói đỏ, viền cong cong bởi các con rồng đắp quét vôi vàng. Hồ rộng, rừng núi xanh biếc chung quanh mờ trong màn mưa...làm Ba tiếc là sao lại không đem theo máy chụp ảnh?

Đi lên một đoạn dốc nhỏ trước khi bước lên 174 bậc (không tính cái bậc nhỏ xíu ngay trước cổng tam quan). Bậc 48, 99 và một trăm năm mươi mấy đó (quên rồi) thì lớn hơn các bậc khác (chắc để cho người ta đứng lại mà thở ). Ba nhắc cho mẹ nhớ để mà kể cho Bi Ky nghe, (rứa mà lúc xuống Mẹ lại nói có 164 bậc hà, cũng không nhiều lắm hỉ. May sao Ba còn nhớ rõ nên không phải quay lên đếm lại).

Trúc Lâm - Bạch mã được Hòa Thượng Thanh Từ khởi công vào năm 2006, chùa xây theo trường phái của các Trúc Lâm thiền viện như ở Yên tử, Tam Đảo, Long Thành, Đà lạt (Các con có đến đây rồi - đi bằng cáp treo. Nơi đây trồng rất nhiều hoa) ... Sau Tam quan là hai tòa nhà nằm theo trục dọc: Đại điện và Tổ đường. Bên phải Tổ đường là Tăng đường, còn phía bên trái là Trai đường, lớn hơn.

Đại điện thiệt là lớn, gồm ba gian. Giữa là tượng Đức Thích Ca Mâu Ni, phía sau là bức phù điêu cây Bồ đề và những dãy núi thấp như ở xứ quê hương của Ngài. Phía trái (của Ngài chứ không phải của Ba) là tượng Đức Văn Thù Bồ Tát đặt trước bức phù điêu cành tùng trên vài ngọn núi cao nhọn, đặt trưng của đất Trung hoa. Phía phải là tượng Đức Phổ Hiền Bồ Tát. Các cây cột của Đại điện cao vút và phía trên là phần gỗ được chạm trổ tuyệt đẹp như những tấm màn. Treo trên đó là các bức liễn và hoành phi bằng gỗ thiếp vàng.

Rời Chánh điện đi thêm hai mươi mấy bậc thang nữa (lần này quên, không đếm) là Điện thờ các vị Tổ sư cũng lớn và hoành tráng không kém. Có một Sư Thầy đang đứng đánh chuông cho chư vị lễ Phật, nhưng có lẽ nhiều người hỏi quá nên Thầy cũng dành chút thời gian giảng nghĩa. Mẹ ngoắc Ba vào để nghe. Thầy nói đạo Phật du nhập vào nước ta từ hồi người Tàu qua đây đô hộ lận, nhưng nhờ lòng từ bi bác ái nên nhân dân ta đã đánh đuổi được giặc ngoại xâm dành lại độc lập tự do cho dân tộc(?)...Không biết cái mặt của Ba đứng đó ngó có giống "công an chìm" không nhỉ?

Phía trái của Tổ đường là Trai đường, một dãy nhà ba tầng với tượng Đức Quán thế Âm Bồ Tát trên cao. Ngoài cùng của tầng 2 là bếp, phía trên tầng 3 là điện thờ. Bên bức tường phía ngoài tầng 3, chùa cẩn thận gắn thêm một bàn thờ nhỏ xíu trên tường (như kiểu bàn Thiên trước nhà mình vậy) trên đó không có tượng gì cả nhưng có bày hoa quả và bánh tét...không biết để cúng ai. Định hỏi nhưng không tìm thấy ai nên thôi vậy. Từ trên cao nhìn xuống rừng núi hùng vĩ và hồ nước xanh bao bọc chung quanh nên dù chùa không phải trồng cây nhiều nữa mà vẫn thấy dịu nhẹ. Không phải bắt chước Đà lạt, nhưng Ba nghĩ là nên đem độ một nửa Lan của vườn Bạch Mã lên đây thì chắc còn đẹp hơn nữa.

Cô Tâm nói, hôm khánh thành Chùa (20 tháng tư 2008), đông người đến viếng lắm, Cô đi mà phải chen chúc và đôi lúc phải để từ từ trôi theo giòng người chứ không đi nổi. Chiều rồi nên mọi người đều muốn về kẻo sợ hết đò. Đoạn đường đi bằng thuyền trong lòng hồ có lẽ là đẹp nhất với Ba. Khi nào về quê, lên thăm mộ của Nội ba sẽ nhắc Bi Ky đi vòng quanh hồ Truồi bằng một chuyến đò cho biết.



Trước khi về ba có ghé lại thăm trường Tiểu học An lương Đông, hồi nhỏ Ba học (nghe văng vẳng đâu đây giọng ca Thanh Tuyền "Hôm nay tôi trở về thăm trường cũ..." ). Từ Cầu Truồi đi ngược trên đường quốc lộ hướng về phía Cầu Hai độ 100 thước thì bên phải là Ga truồi, bên trái là một dãy nhà nằm thấp xuống dưới mép đường, trong đó có nhà thầy Khôi (hiệu trưởng thời Ba còn học), Mợ Kiều (vợ cậu Nẩm, anh bà Nội), nhà ông thợ "cúp" mà hồi nhỏ bà cố Nội con hay cho người đưa Ba xuống cắt tóc ở đó. Ba còn nhớ ổng hơi ốm, người cao cao, khi nào cũng phẩy phẩy tấm vải trắng trước khi quàng vào cổ khách hàng. Cái khăn trùm luôn người ngồi và cả cái ghế có hai tay tựa. Một cái gương lớn đặt ngay trước mặt khách, soi rõ luôn cả người đi chợ qua lại bên ngoài đường. Dưới cái gương là cái bàn nhỏ lật nắp lên xuống được, trên đó là dao, kéo, tông đơ và mấy cái hộp đựng phấn thơm cùng cái nắp gỗ gắn chùm lông để thoa phấn mỗi khi cạo. Ông có hai cây kéo mà một cây có cái lược luôn trên đó, 1 cái tông đơ màu đen bóp bằng tay và độ 3 cây dao cạo, loại dài cỡ gang tay, lưỡi gấp được vào trong cái cán bằng gỗ hoặc xà cừ láng bóng. Trong khi chờ đợi là ông cứ lấy con dao ra liếc liếc vào sợi dây bằng da, cột một đầu trong bức tường, một đầu để nắm kéo căng ra khi mài. Thời đó chỉ có hai kiểu cúp, cúp ca rê thấp và cúp ca rê cao, không kể cạo trọc. Thật ra thì cúp tóc cũng thoải mái, mùi phấn thơm thơm, chỉ phiền cái là ông hay lấy tay bẻ cái đầu của Ba theo ý ổng cho dễ cắt và sau khi cắt, tóc vướng lại trong cổ xót xót tí thôi...

Qua khỏi dãy nhà đó độ hơn trăm thước nữa là đường rẽ vào trường. Con đường nhỏ và không quanh co, không có cái bàn "ra tông" đầu đường giống như xưa nên hơi khó tìm. Đám ruộng sau lưng trường và mấy cái mả quanh đó được thay bằng nhà cửa san sát. Cánh cổng nhỏ hơn ngày xưa và đóng kín (vì nghĩ tết). Không còn gì giống như ngày xưa cả, trừ cây vông đồng già cao lớn giữa sân. Đúng là nó, nó nằm ngay trước cửa lớp năm A (lớp nhỏ nhất trường) của Ba hồi đó, thầy Ban dạy. Đi ngược về bên trái là lớp tư, cô Thảo dạy, phòng kế là lớp ba, thầy Thiện dạy. Hai phòng tiếp cho lớp nhì và lớp nhất thì Ba chưa vào (vì cuối năm lớp ba là Ba đã chuyển về Huế rồi). Tiếp đó là dãy ba phòng vuông góc để dành sinh hoạt học đường, nơi đó có lần người ta đến chiếu cho các học sinh coi phim về cuộc du hành của phi thuyền Apollo 11 đổ bộ Nguyệt cầu. Phòng ngoài cùng là phòng của Thầy Khôi, hiệu trưởng...Không còn gì quen thuộc nữa cả, chỉ còn duy nhất cây vông già giúp Ba nhớ lại những quang cảnh ngày xưa. Hồi học lớp hai, cô Thảo là bạn của cả ôn Nội lẫn Bà Nội nên thương Ba lắm, Ba còn nhớ cô hay khen với bà Nội "Trời, chị biết không, cái thằng thông minh thiệt, nó hỏi em là ai đan áo len cho con sâu róm mà đẹp rứa cô?". Ba không nhớ là mình có hỏi thế không, nhưng nếu có thì cũng ngồ ngộ thôi chứ nói là thông minh thiệt thì cũng hơi quá đáng .

Đường về lại Huế buổi chiều lạnh, nhưng bớt mưa.

Ba không chụp hình được nên các con vào đây coi đỡ nhé:
http://vnphoto.net/forums/showthread.php?t=20913

Thứ Sáu, 5 tháng 3, 2010

30 Tết

Thuở trước thì ngày này được dùng để nấu bánh chưng bánh tét, lau dọn nhà cửa và cúng đón ông bà về ăn tết với mình. Các lu, khạp, vại trong nhà phải múc cho đầy nước, tránh ngày mồng một tết phải khua thùng đụng giếng.

Trưa Mồng Một Ba Mẹ ra Huế rồi nên không làm gì nhiều, cũng cúng rước ông bà nhưng "bị chú" là năm nay ông bà về ăn tết hơi bị ít đừng buồn.

Chiều ba mươi lên nhà Mợ Khuê để thắp hương cho Cậu Út và chơi với Bé Na cu Rin tí. Lúc về rủ Cậu Trí Mợ Khánh ra xem đường hoa NH, nhưng vì Cậu Trí "bận" đi khám bệnh (chưa thấy ai siêng như Cậu) nên Ba Mẹ đi một mình.

Ba chở Mẹ theo con đường mà năm ngoái Ba và anh Bi cũng đi ngày ba mươi chụp hình gởi cho Ky. Đường Sài Gòn vắng vẻ hơn nhưng trên vỉa hè vẫn còn bày bán hoa, các loại trái cây để cúng và chưng như dừa, dưa hấu. Màu đỏ và màu vàng của các lồng đèn, chuỗi dây treo lấy may mắn, bong bóng, hoa giấy, cả thú nhồi bông nữa...rực rỡ ven đường.


Chiều ba mươi Tết hàng quán vẫn còn bày bán bên đường nhiều.

Quán cafe đông người (sao họ rảnh thế nhỉ - tưởng chỉ mình mình thôi chứ). Người ta vẫn ăn, uống và vẫn nhậu.


Bò nướng lốt trên lề đường Tôn Đức Thắng

Nói chuyện cúng tết mới nhớ lúc Ba Mẹ mới ra trường, vào Sài gòn, Mụ Phước (chị của mẹ của bà Ngoại của con - không thể tìm ra từ ngắn gọn hơn) bày cho Mẹ cách cúng mâm Ngũ Quả ngày Tết. Mụ bảo mỗi món không cần nhiều nhưng phải đủ các loại trái sau: Mãng Cầu, Dừa, Sung, Thơm, Đu Đủ, Xoài (ý là "cầu vừa sung sướng, thơm tho, đủ xài"), trái to, màu sắc càng đẹp càng tốt. Mấy năm sau về Vũng Tàu thấy nhà Bác Bi Em chỉ cúng có ba trái hà (Mảng cầu, Dưa hấu, Xoài), rứa là từ đó về sau dù vẫn nhớ lời Mụ dặn nhưng Ba Mẹ thấy cúng "cầu dư xài" có vẻ có lý hơn...

Qua hồ Con Rùa thấy đẹp nên ghé vào, người ta làm các quả cầu hoa và tường hoa khá lạ mắt. Tiếc là đường hoa NH quá đông nên không thể nào vào chụp hình cho đẹp được. Ba Mẹ chỉ có thể chen chúc được tí để coi ở khúc đầu và đuôi. Năm ngoái Ba và Bi đi sáng sớm nên dễ chịu hơn khi tà tà suốt từ đầu này đến đầu kia, tha hồ ngắm. Đến công viên Tao đàn thì chiều xuống mất rồi, tiếc thật. Năm nào ở Tao đàn cũng chưng nhiều hoa lan đẹp tuyệt.


Hồ con rùa với những quả cầu hoa

Nhà VH Thanh Niên và Diamon Plaza

Đầu và cuối đường hoa Nguyễn Huệ. (Khúc giữa đông quá, Ba không chen vô được).

Thảo cầm viên không còn đẹp như xưa, cửa đóng nên chỉ đi qua, không dừng lại. Bên trong vắng lặng, không có nhiều trò chuẩn bị đón xuân như trước đây. Trông nó loay hoay để tồn tại mà thấy tội nghiệp. Có lẽ rồi người ta cũng sẽ dẹp nó như công viên Văn Lang. Sát cạnh TCV là một building mới xây của PetroVN. Trên đường về thấy nhớ Bi Ky...


Cổng trước của Thảo cầm viên và tòa nhà PetroVN tower cạnh đó.

Tối ba mươi xóm mình vắng lặng, nhưng không tối thui như trong sách vở ngày xưa kể, bởi vì cứ cách chừng mươi thước là có một ngọn đèn đường rồi. Thay nước hồ cho mấy con cá cùng ăn Tết, tưới cây xong, vừa mở ti vi, vừa mở máy tính để chúc tết mọi người, vừa trả lời tin nhắn từ điện thoại đi động. Nhắn 20 tin mới đi được một tin (mà vẫn mơ hồ rằng mình bị tính tiền cả 20 cuộc). Đúng 12 giờ, người ta bắn pháo hoa. Ba không thích pháo hoa, để tiền đó xây nhà cho người nghèo hay hơn nên Ba tự nhủ sẽ không bao giờ đi đón giao thừa bằng cách xem bắn pháo hoa cả. Đón Giao thừa xong Ba Mẹ gọi điện ra Huế chúc Tết Ông Bà Ngoại và Ôn Kiện rồi như thường lệ là đón cả nhà cậu Trí đến xông đất mừng năm mới.


Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn chiều ba mươi


Công viên Văn Lang trong một ngày Tết cách đây hai năm.

Thứ Sáu, 12 tháng 2, 2010

29 Tết

Ngày cuối năm.

Những ngày cuối năm bao giờ cũng tất bật và rộn ràng cả. Nào là mua sắm, đi cho quà tết, lau chùi nhà cửa, sửa soạn bàn thờ...Năm nay không có Bi Ky, Ba Mẹ lại chuẩn bị ra Huế nên thấy thong thả hơn.

Hôm qua Ba ngủ gần cả buổi chiều để sáng nay dậy sớm chở Mẹ xuống chùa ở Long Thành và Giang Điền thăm Thầy và Sư Cô. Đường đi năm nay được làm mới và rộng ra nên đi cũng dễ hơn năm ngoái, lúc cùng đi với anh Lạc Thư và Bi.

Ba xuống Chùa Phật Ân trước, Ôn Trụ Trì làm cái cổng và lối đi vào Chùa đẹp, nhưng Ba không đem máy ảnh theo nên không chụp cái hình nào cho Bi Ky xem cả. Vào cổng Chùa thay vì quẹo bên phải liền thì bây giờ có thể đi thẳng vào sâu hơn một đoạn nữa (phần vườn cũ) rồi mới rẽ tay phải để đi vào chánh điện. Nhiều phòng mới xây và sửa chữa lại cho rộng hơn. Một cái chuông mới, đặt gần cổng, đang được trang trọng chờ làm nghi thức khai chuông. Chuông khá đẹp, lớn gấp đôi cái chuông cũ. Sau lớp giấy đỏ bọc bên ngoài, người ta có thể đọc được những giòng chữ tri ân với các họa tiết khắc nổi quanh chuông. Thầy nói nó nặng đúng một tấn, do một gia đình gồm một ông bố, một bà mẹ và một đứa con trai cúng dường cho Chùa (tự vì có khắc tên của họ trên cái chuông). Hơi giống trong phim Tàu, chứ phim cổ trang Hàn quốc không có chiện này (không tin thì cứ hỏi Mẹ). Nó được đúc tại Huế rồi mới chở vào Chùa. Chắc ngoài đó các nghệ nhân tài hoa hơn. Hồi ông Nội các con mất, Ba tình cờ được dự một lễ đúc một cái chuông ở dưới Long Khánh: Thợ cũng được mời từ Huế vào. Cái khuôn được làm và đặt sâu dưới lòng đất, chỉ chừa mấy cái ống phểu để đổ đồng vào. Bên cạnh là một cái lò lớn đỏ rực lửa nung chảy đồng trong một cái vạt. Lễ cúng diễn ra trang trọng với sự có mặt của nhiều Hòa thượng cao niên đến từ nhiều Chùa (Sài Gòn, Đồng Nai, Đà Lạt...). Khi chuẩn bị rót đồng vào khuôn thì nhiều Phật tử dự khán quanh đó đứng lên ném các vòng, nhẫn, đồ trang sức bằng vàng của mình vào trong cái vạt. Giòng đồng đỏ rực như lửa từ từ được rót cái khuôn. Sau khi nguội, nó sẽ được đập ra và thợ sẽ trau chuốt lại. Quan trọng nhất trong nghệ thuật đúc chuông là kỹ thuật cũng như chất liệu làm cái khuôn và tỷ lệ thiết pha vào trong đồng để tạo ra một cái chuông có tiếng ngân xa...

Bàn thờ có hình Ôn Nội được dời lên độ hai mươi mét so với vị trí cũ. Các Thầy, Chú và Điệu lăn xăn quét dọn, bày các chậu hoa cùng cây mai lớn trước đại sảnh để buột các phong bao lì xì kèm những lá xăm cho mọi người hái lộc đầu năm. Năm ngoái Ky nhờ anh Bi bốc xăm, hình như có nói đại ý là con đi xa, học tốt, cần phải giao lưu kết bạn thêm với mọi người. Năm nay không ai về Chùa đầu năm nữa nên không ai bốc giùm cho Bi Ky cả.

Ôn Trụ Trì cảm ho. Ba Mẹ đi mua thuốc cho Ôn và thắp hương cho Ôn Nội xong rồi về Chùa Pháp Lạc thăm Sư Cô theo đường tắt ở "ngã ba Thái Lan" mà năm rồi Bi có đi đó, có điều lần này đi ngược lại. Ôn gởi tặng mấy ấn bản kinh sách quý như Tâm Ảnh lục và Ánh Sáng Hoàng Kim của Hòa Thượng Thích Trí Quang, không có Bi ở nhà cho Bi đọc, uổng ghê. Thôi đành để trong tủ sách để "hù" thiên hạ vậy.

Chùa của Sư Cô năm nay cũng xây mới nhiều, khang trang hơn, nhưng thấy Sư Cô lúc nào cũng vất vả. Sân Chùa có nhiều tượng Phật mới và Ba thích nhất là hai cây mai trắng (Nguyệt Mai), nở chi chít đầy những hoa thiệt là đẹp. Ăn trưa với Cô xong Ba Mẹ về lại Sài Gòn. Cô gởi bánh chưng về cúng cho ông bà Nội. Bánh chưng Cô nấu ngon và có màu xanh rất tươi.

Ai cũng hỏi thăm Bi Ky và mong Bi Ky học giỏi, chăm ngoan.

Lại gần hết một năm rồi. Mau thiệt!

Thứ Năm, 7 tháng 1, 2010

Sinh nhật Elvis Presley lần thứ 75

Thật ra thì cả Elvis lẫn Celin Dion đều không có bà con gì với nhà mình hết, nhưng vì thấy nổi tiếng, báo chí nói ì xèo nên nghe thử cái coi.



Coi cái kiểu ghép này nhớ tới cảnh Tom Hanks bắt tay tổng thống Kennedy... trong Forrest Gump. Nghe Elvis thì thích vote cho bài My Way và Love me Tender hơn, nhất là giọng hát khi còn trẻ! Chứ khi "già" thì nghe không "đã" bằng Frank Sinatra.



Hồi đó chưa có máy điều hòa, lại còn "chơi" cái áo da vậy nữa, cũng tội nghiệp thiệt. Hèn chi ổng "die" sớm, nếu còn sống thì bánh SN của ổng giờ cũng phải cắm tới 7 cây nến lớn và 5 cây nến nhỏ.

Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2010

Chúc Mừng năm mới Bi Ky

Ngày 01 tháng 01 năm 2010.

Mới đó mà một năm lại trôi qua. Ba nhớ hôm đầu năm rồi, sáng ngày 01 tháng 01 năm 2009, cả nhà mình đi uống cafe rồi đi loanh quanh mua mấy cây hoa và lá chưng tết. Có cái cây gì mà lá như cái đuôi chồn, màu xanh mướt, đẹp thiệt là đẹp.


Hồi mới mua nó chỉ có đâu chừng 5 - 6 cái đuôi gì thôi thế mà bây giờ nó "sinh đẻ" không có kế hoạch gì cả.

Lần đó là lần mà cả nhà mình còn đi chơi đông đủ, vì hơn tháng sau là Ky đi Canada rồi hơn nửa năm sau là Bi đi Mỹ nữa.

Nghe con cái hết đứa này đến đứa khác đi du học thấy mà ham. Thực ra thì Ba lại rất lo, không phải chỉ là lo thiếu tiền cho các con ăn học mà cái chính là ba vẫn nghĩ là các con chưa đủ chín chắn để hiểu mình cần phải làm cái gì trong cuộc sống. Được đi học xa là niềm mơ ước hết sức xa xỉ của Ba thuở nhỏ. Giờ đây thì chuyện đó không xa lạ gì với các bạn nhỏ cùng lứa tuổi các con, nhưng Ba lo là các con sẽ khó thích nghi với các khó khăn chờ đợi mình trong cuộc sống xa nhà và tự lập. Ở nhà với Ba Mẹ, có bị la một tiếng cũng không sao, nhưng ra đời các con dễ bị mặc cảm,
dù mọi người vẫn yêu mến các con...

Nói lan man không đâu vào đâu. Chuyện các con đi là cái duyên trời định rồi nên thôi không nói nữa. Chỉ muốn nói là, mở đầu một cái gì cũng vất vả, mong các con vượt qua được.

Chúc mừng năm mới Bi Ky!


Thứ Ba, 29 tháng 12, 2009

Làng Truồi

Núi Ấn Lĩnh, Sông Hưng Bình



Search trên Google thì đúng là tìm ra được
cái tên gốc của Núi Truồi liền, hay thiệt. Ngày đó, nghe Mụ Bích nói Núi Lĩnh, sông Hưng mà cứ ngỡ Mụ nhớ lộn "núi Lĩnh sông Lam" ngoài xứ Nghệ, vì hồi trước Ôn Nội có ra làm quan Tri Huyện một dạo ngoài Huyện Kỳ Anh.

Ngoại trừ vài truyện ngắn hiếm hoi như "Tôi đi học" là có chút nắng ngày đầu Thu của mùa tựu trường, nhưng lại không phải viết về Huế, còn lại mấy truyện về Huế hay Truồi mà Thanh Tịnh viết đều nặng nề và tối. Hết cái tối và mưa lạnh của đêm mùa đông trên con đường gần Ga Truồi, đến cái tối và bí ẩn bao trùm làng Truồi cùng cánh rừng quanh ngọn núi Ấn
ngày ấy có người đàn ông "ngậm ngãi tìm trầm" biến thành cọp. Cả đến ngày Tết mà ông cũng chỉ vẽ ra có vài ánh đèn leo lét trên mặt sóng đầm Cầu Hai đêm ba mươi.

Khác với ký ức của Ba về làng Truồi thì con sông Hưng lấp lánh ánh nắng, chảy dài ngang qua làng Đông Di là quê Nội, qua cầu Truồi tới làng Sư Lỗ Đông là quê Ngoại. Sông tuy nhỏ nhưng nước bao giờ cũng trong xanh cả. Bên này sông là xã Lộc Điền, bên kia sông là xã Lộc An. Những ngày mưa mùa đông, dù nước sông Hương có vàng đục lại thì về ngang cầu truồi vẫn thấy nó còn xanh. Cầu Truồi không lớn, có lẽ vì nó chỉ làm cho tàu hỏa chạy qua mà thôi, nhưng xinh xắn và trông giống như cầu Trường Tiền tuy có ít "vài" và ít "nhịp" hơn, nằm cạnh bên cây cầu đường bộ.


Cầu Truồi

Con đường làng chạy dọc hai bên bờ sông Truồi ngày ấy mặc dù đầy đá nhưng hai bên đường xanh mướt bóng tre, những bụi mâm xôi xem lẫn vài cây ngũ sắc và vẫn còn một lối nhỏ đất thịt bằng phẳng ven bờ cỏ cho người đi bộ hay xe đạp.
Có điều ngộ là lớp đá lát trên con đường từ Ga Truồi đi lên phía làng Đông Di thì nhỏ và nhọn, nhưng từ Ga Truồi đi về phía về làng Sư Lỗ thì tròn và to, gần bằng trái dừa. Người qua lại trên đường tấp nập cả buổi sáng và buổi chiều, những gánh chè tươi đã được bó lại, những gánh khoai sắn mới đào lên hôm qua, những gánh cây trái mới hái từ trong vườn, những tảng bột lọc trắng phau gói trong lá chuối...kỉu kịt hướng xuống chợ, về thì tôm cá, rau đậu, quà bánh. Người ta đi bộ và dùng quang gánh hoặc giỏ xách để đựng đồ. Tiếng chào nhau không ngớt như là ai cũng quen nhau ở cái làng nhỏ bé này: "Chào Bác, Chào cụ, Chào Ôn"...Có khi câu chào chỉ cụt ngủn: "Mự (mợ), Cậu...Câu trả lời đôi khi cũng vậy: "Dạ, Ời...hoặc dài hơn: "Chà, gánh chi mà nặng rứa hè? Cá bữa ni rẻ khôn O?"...


Xuôi giòng

Vườn Ôn Nội nằm sát bờ sông, có một cái bến sông bằng cement nằm cạnh gốc đa nho nhỏ. Hầu như mỗi nhà đều có một bến sông nhưng năm hay bảy bến mới có một bến sông lớn mà cả xóm tới dùng. Buổi chiều là bắt đầu có đông người xuống bến tắm giặt. Đa phần là các cô các bà mang từng thau áo quần, có khi cả chiếc chiếu xuống giặt. Những thằng nhóc và con bé cũng được lôi theo để mẹ chúng tắm táp và kỳ cọ. Thi thoảng mới có một thanh niên trong đám họ. Tiếng cười nói, kể chuyện, trẻ con nô giỡn, tiếng giũ áo quần dưới nước, đôi khi vang lên tiếng của chiếc chiếu (được gấp lại) đập xuống mặt nước bành bạch. Vài chiếc đò dọc lặng lẽ chèo qua. Một chiếc cắm sào và neo lại giữa giòng để giăng lưới hay làm gì đó không biết.

Khu đất nhà Ôn hình chữ nhật, bề ngang giáp bờ sông, bề dọc một bên giáp vườn (không nhớ của nhà ai, chỉ nhớ có nhà Mụ Lòn bán bánh canh ngon lắm) một bên là con ngỏ dài dẫn ra bến sông. Từ bến sông đi vào, bên trái ngỏ là vườn nhà ông Đội Cung, vào tí nữa là nhà ông Xạ Hương, vào sâu nữa là nhà gì thì quên mất rồi, chỉ nhớ gần cuối ngỏ là nhà của chú Lùn, chú Vồ, trước khi qua một khu vườn rộng để vào một con đường khác. Nhà Ôn xây chính giữa khu đất, lưng quay ra hướng bờ sông, phía trước nhà là một cái sân và vườn trước, sau nhà là vườn sau. Cổng nằm bên trái nhà, tức là trổ ra con ngỏ, đối diện cổng nhà ông Xạ Hương.

Cả vườn trước và sau của Ôn đều trồng chè. Gốc chè được trồng cách nhau độ chừng non hai mét, cao cũng chừng hai mét. Thân to cở bắp tay, loang lỗ các mảng vỏ trắng xám như rêu khô. Từ những thân lâu năm này mọc ra nhiều nhánh non nhỏ. Lá chè được hái từ các nhánh này hai hay ba lần gì đó trong một năm. Người hái mang một cái gùi nhỏ, đứng trên thang thấp hoặc trên mặt đất dùng tay tước độ năm đến mười lá trên mỗi nhánh, chừa lại cái lá búp và một lá non trên ngọn. Sau khi gom lá chè hái được thành một đống, người ta sẽ phun nước để giữ cho lá luôn tươi trước khi bó lại thành từng bó vuông vức cỡ chừng gang tay bằng sợi lạt tre.


Hoa Chè, Ba chụp trong vườn nhà Nội ở Đông Di, Truồi, năm Bà Nội mất

Hoa chè nở vào cuối năm (không biết có nhớ tầm bậy không?), nụ tròn và xanh như nụ hoa đào, cánh cũng trắng nhưng nhụy lại có màu vàng mơ. Hoa chè không thơm lắm nhưng đẹp. Khi kết trái, hình dáng cũng ngộ nghĩnh, nó như 3 hạt đậu phụng dính nhau ở giữa kiểu chiếc lá me 3 cánh. Mùa hè thì trái chín, tách vỏ ra
được ba hạt tròn màu nâu như ba hòn bi nhỏ. Hồi nhỏ không có bi thủy tinh, lấy tạm hạt chè chơi cũng được nhưng hơi nhẹ, bắn không đã lắm. Nhiều người khen nước chè nhưng thực tình mà nói thì Ba thấy nước chè xanh hơi khó uống hơn trà.


Dâu còn xanh trong vườn nhà Ôn
Nội.

Ở vườn trước, gần lối vào cổng Ôn có trồng một cây dâu, vườn sau cũng có một cây. Thân cây cao to cứ như là cây cổ thụ nhưng cành mềm, dễ gãy nên không ai dám trèo. Lạ là hoa mọc từ thân cây thành từng chuỗi vàng rất thích mắt, từ dưới gốc mọc lên không chừa chỗ nào. Những chuỗi này kết thành từng chùm trái chi chít cây nên càng khó trèo hơn. Trái dâu khi chín vỏ màu vàng, mỏng, bên trong có ba đến bốn múi, vị ngọt thanh, có khi hơi chua. Trái này sấy khô thì khó chứ đóng hộp thì chắc là ngon tuyệt.

Ngoài chè và dâu thì Truồi vẫn có nhiều thứ ngon lắm, như bột lọc, mít, quýt, thanh trà, ổi, mía...Không biết Ba nói có đúng không hay tại vì thuở nhỏ thì thấy cái gì cũng ngon cả.

Rảnh Ba viết tiếp, giờ con đọc tạm mấy cái link của bác Nguyễn Trường và cô Kim Ngọc để biết thêm về Truồi.

http://nguyentruongvn.com/Home/NewsDetail.aspx?newsid=32

CHÈ XANH LÀNG TRUỒI

Hồi xưa, tất cả các làng quê dưới chân núi Ấn Lãnh, dọc theo hai bờ sông Hưng Bình đều gọi làng Nam Phổ Cần là làng Truồi. Từ cái làng Truồi "gốc" ấy mà không biết từ bao giờ đã "Truồi hóa" núi Ấn sông Hưng thành núi Truồi sông Truồi và cả một vùng đất rộng người đông này thành địa danh xứ Truồi hiện nay. Giờ đây những ông già bà cả trong vùng vẫn quen gọi làng Nam Phổ Cần là làng Truồi, làng của nhiều loại cây trái, trong đó cây chè xanh được xem là cây đặc sản của một vùng đất vì hương vị độc đáo riêng biệt của nó. Và không ai lạ gì trong các buổi chợ ở đây, người mua chè thường giành mua trên tay nếu mặt hàng này từ làng Truồi đem bán. Cũng khỏi cần hỏi tới hỏi lui, chỉ nhìn qua là biết chè làng Truồi để mua rồi. Khi nâng bát nước chè xanh lên môi nhấp một ngụm, người sành điệu có thể phân biệt được đâu là chè xanh làng Truồi với các làng khác trong vùng.

Chè xanh khắp làng Truồi đều được tiếng như thế. Nhưng không phải nơi nào trong làng chè xanh cũng có hương vị giống nhau. Cùng là chè làng Truồi cả, thế mà phải là chè Phủ mới có hương vị độc đáo. Phủ là một khoảnh đất bằng phẳng rộng chừng 6 ha chuyên canh cây chè, tiếp giáp với đồi núi cuối làng. Người đi mua chè lứa của các chủ vườn thường chọn mua cho được chè Phủ. Đã là chè Phủ thì không chê vào đâu được. Cây chè cứ mơn mởn, sây lá đều nhau từ gốc đến ngọn chỉa lên trời. Dưới nắng sớm mai, lá chè xanh vàng đến mát mắt, làm cho những cô gái hái chè cảm thấy "sướng tay", hứng lên hò đưa tình đối đáp với nhau không biết chán là gì.

Muốn chọn lá chè để nấu uống, người làng Truồi bao giờ cũng chọn lá chè ở chính giữa vườn, nơi cây chè không bị che khuất ở trên. lá chè phải nhỏ bản, có màu vàng non, tươi mà giòn, thì nứoc chè mới cho màu sắc vàng xanh, uống vào hơi chát mà ngọt mãi nơi cổ họng.

Chọn được lá chè vừa ý rồi mà không có nước nấu vừa ý thì cũng bằng không. Nước nấu chè xanh mà dùng nước giếng có chút nhiễm phèn thì coi như bỏ. Bây giờ người ta dùng nước máy đun sôi để pha chè. Còn ngày xưa người ta cho rằng đã là chè Truồi thì phải nấu với nước sông Truồi mới "đúng điệu" của nó.. Và để có nước sông Truồi như thế, người ta phải dùng trái bầu khô, bơi ra chính giữa dòng lấy nước về. Nước nấu bằng nồi đất nung. Chè rữa sạch, vò sơ, cho vào ấm sành. Nước sôi đổ vào lắc đều, chắt bỏ nước đầu, chỉ dùng nước thứ hai. Trong ấm chè không nên thêm gừng, vì mùi gừng sẽ khử mất mùi thơm tự nhiên của chè xanh. Nước chè pha ra cái bát sành để thật nguội uống mới đã cơn khát. Hương của bát nước chè xanh làng Truồi tỏa ra thơm thơm, uống vào thấy chát chát ngọt ngọt, khiến những ai quen dùng cứ nhớ, thành "nghiện, ăn xong mà không có bát nước chè xanh là không chịu được...

DÂU TRUỒI

Trong nhiều loại trái cây có hương vị ngọt ngào, thơm ngon ở đây thì dâu Truồi được xem là loại trái cây đặc trưng của xứ Truồi mà khách trong nam ra, ngoài bắc vaò đều biết tiếng. Hằng năm cứ đến tháng 5 âm lịch là mùa dâu chín rộ. Trong một chùm dâu sai quả thì quả nào có điểm son là quả ngọt nhất. Vị ngọt của dâu điểm son khó so sánh được với bất cứ vị ngọt của một loại trái cây naò khác. Người ta nói, ăn quả dâu tiên xứ Truồi thì "ngậm mà nghe", nghe hết cái tinh chất của thiên nhiên chắt lọc từ một mạch đất mà tạo nên cái vị ngọt độc đáo kia. Ăn nhiều quả dâu tiên người ta thấy mát ra, và có lẽ vì thế nên thiên nhiên cho loài trái cây này chín đúng vào giữa mùa hè. Những chủ vườn dâu thường bận rộn chăm sóc lúc dâu chín, đề phòng chim chóc phá hại. Khi thu hoạch dâu cây nào, người ta hái hết cây ấy, vì nếu hái lẻ tẻ vài chùm rồi bỏ đó thì cơ hồ như đêm đến loài dơi sẽ tìm tới ăn sạch. Mùa dâu chín, con buôn kéo nhau đến ngã giá từng cây để mua sĩ rồi đem chợ bán. Đây là mặt hàng trái cây bán chạy, có lãi nên rất đắt khách. Xưa nay ở Truồi đến mùa dâu chín, quả dâu được dùng làm quà để đi thăm người thân ở xa ; học trò dùng đi thăm thầy nhân kỳ nghỉ hè ; là lễ vật cúng gia tiên nhân tết Đoan Ngọ. Và đặc biệt trong lễ ăn hỏi giữa nhà trai và nhà gái, gặp mùa dâu chín, quả dâu là lễ vật được" nhân cách hóa" theo một ý nghĩa độc đáo để hai bên su gia có thể gởi gắm nỗi lòng của nhau. Nếu nhà trai ở Truồi đi hỏi vợ vùng khác thì người ta mang theo lễ vật, trong đó có một khay dâu chín mọng để biếu nhà gái với ý nghĩa mong muốn có được cô dâu ngọt ngào, hiền thảo. Nếu nhà trai ở nơi khác hỏi vợ ở Truồi thì nhà gái chọn những quả dâu điểm son để mời nhà trai với ý nghĩa mong muốn "của ngon" này phải được người thưởng thức xứng đáng. Vì thế ở đây mới có câu hát :
"năm xưa thầy mẹ bảo em

chọn mua lấy quả dâu tiên xứ Truồi

để nhà anh tới chịu lời

ăn dâu quả ngọt ngẫm người biết ta"

NGUYỄN TRƯỜNG


http://vn.myblog.yahoo.com/kim_ngoc1010/article?mid=137

Thứ Hai, 28 tháng 12, 2009

Kỷ niệm

Kỷ niệm cứ như là những người thân yêu. Nó không biết phản bội ai. Và khi cần thì người ta có thể tựa đầu vào nó để khóc...một trận tơi tả.